1. Khởi động (Engagement)
Mỗi khi em "Like", "Share" hoặc để lại một "Comment" trên mạng xã hội, em đang để lại một Dấu chân số (Digital Footprint) tồn tại vĩnh viễn.
💡 Câu hỏi suy ngẫm:
- Có bao giờ em hối hận về một bình luận mình đã viết cách đây 1-2 năm không?
- Nếu một nhà tuyển dụng trong tương lai tìm thấy những bài đăng thiếu văn minh của em hiện nay, điều gì sẽ xảy ra?
Hành vi trên mạng không chỉ là ảo, nó có những hệ lụy thật về pháp luật và đạo đức.
2. Hình thành kiến thức (Knowledge)
Trong cuộc sống, ai cũng có thể có những xung đột lợi ích với cộng đồng và đôi khi có những hành vi đi ngược lại lợi ích chung. Pháp luật quy định rõ những hành vi nào là vi phạm pháp luật mà Nhà nước sẽ cưỡng chế. Những hành vi khác không phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng hay xã hội sẽ được coi là thuộc hành vi vi phạm đạo đức.
Đạo đức là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực xã hội mà con người phải tự giác thực hiện cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng, của xã hội. Dư luận xã hội và giáo dục là các biện pháp điều chỉnh đạo đức.
1. Những vấn đề đạo đức, pháp luật và văn hóa
a) Phân biệt hành vi vi phạm pháp luật hay đạo đức
Xem xét tình huống sau và trả lời câu hỏi: Do mâu thuẫn ở một diễn đàn trên mạng, một nhóm nữ sinh đánh một bạn nữ khác. Các bạn ở xung quanh đã không can ngăn mà còn quay phim rồi đưa lên mạng xã hội. Do có nhiều bình luận thiếu thiện ý trên mạng xã hội dẫn đến xấu hổ với bạn bè, nạn nhân đã bỏ nhà ra đi không để lại lời nhắn.
Câu hỏi:
- Trong tình huống trên, hành vi nào vi phạm pháp luật, hành vi nào vi phạm đạo đức?
- Theo em, yếu tố nào của Internet đã khiến sự việc trở nên trầm trọng?
Phân tích: Việc đánh bạn ít nhất là vi phạm đạo đức. Nếu người đánh bạn đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (16 tuổi) và gây thương tích nặng sẽ bị coi là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lí hình sự về tội cố ý gây thương tích, làm nhục người khác. Việc đưa video có nội dung như trên lên mạng, gián tiếp cổ vũ bạo lực học đường là hành vi vi phạm đạo đức.
b) Các loại hành vi xấu khi giao tiếp trên mạng
Có thể kể đến một số loại hành vi xấu khi giao tiếp trên mạng như:
Đưa tin không phù hợp lên mạng (bao gồm cả đăng và chia sẻ tin bài). Tuỳ theo nội dung thông tin và hậu quả của việc đăng tin, mà những hành vi đó có thể là vi phạm pháp luật hay vi phạm đạo đức.
Công bố thông tin cá nhân hay tổ chức mà không được phép, gây ảnh hưởng đến uy tín và danh dự của cá nhân hay tổ chức là hành vi vi phạm pháp luật.
Gửi thư rác hay tin nhắn rác. Những thư hay tin nhắn nhằm mục đích quảng cáo mà người nhận không muốn nhận hoặc không bắt buộc phải nhận theo quy định của pháp luật được gọi là thư hay tin nhắn rác. Về bản chất, quảng cáo bằng tin nhắn không phải là một hành vi xấu và không vi phạm pháp luật, nhưng nếu gửi nhiều mà người nhận đã có phản ứng không muốn tiếp nhận thì lại trở thành hành vi quấy nhiễu.
Vi phạm bản quyền khi sử dụng dữ liệu và phần mềm. Vấn đề bản quyền không chỉ đặt ra khi giao dịch trên mạng mà trong bất cứ hoàn cảnh nào, những sản phẩm được số hoá và đưa lên mạng rất dễ bị lấy, phát tán, sửa đổi gây thiệt hại cho chủ sở hữu.
Bắt nạt qua mạng. Chúng ta đã tìm hiểu hành vi này trong Bài 9.
Lừa đảo qua mạng. Các hình thức lừa đảo trên mạng khá phổ biến và tinh vi. Nhiều trường hợp lừa đảo qua mạng gây ra những thiệt hại rất lớn.
Ứng xử thiếu văn hoá. Trên các diễn đàn mạng hiện nay, có nhiều người tranh luận thiếu văn hoá, không tôn trọng người đối thoại, thậm chí chửi tục hay công kích, sỉ nhục lẫn nhau.
c) Đặc điểm của hành vi xấu trên mạng
Trong xã hội thực, phần lớn giao tiếp của con người là trực tiếp, còn trên không gian mạng, giao tiếp không chỉ gián tiếp mà còn có thể ẩn danh. Điều này làm cho kẻ xấu mạnh bạo hơn và hành vi xấu trên mạng khó kiểm soát hơn. Bên cạnh đó, trên không gian mạng người ta có thể gặp nhau bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu miễn là kết nối được với Internet; tin bài đã được lưu trên mạng, lúc nào cũng xem được. Do đó, tin tức đưa lên mạng được phát tán nhanh, rộng và lưu trữ lâu dài. Chính vì thế ảnh hưởng của một hành vi xấu trên mạng có xu hướng trầm trọng hơn.
Cần có những quy định pháp luật và các chuẩn mực đạo đức để đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng người dùng mạng.
Những hành vi vi phạm về đạo đức, pháp luật và văn hoá khi sử dụng mạng:
- Đưa tin không phù hợp lên mạng
- Công bố thông tin cá nhân không được phép
- Phát tán thư điện tử, tin nhắn rác
- Vi phạm bản quyền
- Bắt nạt qua mạng
- Ứng xử thiếu văn hoá
2. Một số quy định pháp lí đối với người dùng trên mạng
a) Các văn bản quy phạm pháp luật
Các văn bản quy phạm pháp luật gồm nhiều loại trong đó có: các bộ luật do Quốc hội ban hành và các nghị định do Chính phủ ban hành để cụ thể hoá các điều khoản của luật.
Quốc hội Việt Nam đã ban hành nhiều bộ luật liên quan đến Công nghệ Thông tin (CNTT) như: Luật Giao dịch điện tử (2005), Luật Công nghệ Thông tin (2006), Luật An ninh mạng (2018) và Luật Hình sự (2017).
Cụ thể hoá các bộ luật trên, có những nghị định để cập đến các hành vi giao dịch trên mạng như: Nghị định 90/2008/NĐ-CP ban hành ngày 13/8/2008 về chống thư rác; Nghị định 72/2013/NĐ-CP ban hành ngày 15/7/2013 về quản lí, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet; Nghị định 15/2020/NĐ-CP ban hành ngày 3/2/2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, CNTT và giao dịch điện tử. Tháng 6/2021, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội theo Quyết định số 874/QĐ-BTTTT ban hành ngày 17/6/2021.
Các luật và nghị định trên đều quy định rõ trách nhiệm trong hoạt động cung cấp các sản phẩm và dịch vụ của các tổ chức hay cá nhân và trách nhiệm quản lí của các cơ quan nhà nước. Riêng đối với người dùng cá nhân, các văn bản pháp lí trên tập trung vào các quy định về sử dụng không gian mạng và bảo vệ bản quyền của các sản phẩm số.
b) Các quy định của pháp luật đối với người dùng trên không gian mạng
Một trong những trách nhiệm quan trọng nhất của người đưa tin lên Internet là đảm bảo tính đúng đắn của thông tin.
Điều 12 khoản 2 của Luật công nghệ thông tin quy định cấm "Cung cấp, trao đổi, truyền đưa, lưu trữ, sử dụng thông tin số" nhằm các mục đích sau đây:
a) Chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phá hoại khối đoàn kết toàn dân.
b) Kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước, kích động dâm ô, đối truy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong mĩ tục của dân tộc.
c) Tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại và những bí mật khác đã được pháp luật quy định.
d) Xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tin của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tin của công dân.
e) Quảng cáo, tuyên truyền hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục cấm đã được pháp luật quy định.
Điều 8 khoản 1 trong Luật an ninh mạng cấm sử dụng không gian mạng để thực hiện hành vi sau đây:
a) Hành vi quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật này.
b) Tổ chức, hoạt động, câu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
c) Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc.
d) Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong Nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế – xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác.
e) Hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi truy, tội ác; phá hoại thuần phong, mĩ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, sức khoẻ của cộng đồng.
f) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội.
Một số hành vi vi phạm pháp luật về đưa tin trên mạng xã hội được cụ thể hoá kèm theo mức phạt trong Điều 101, khoản 1 của Nghị định 15/2020/NĐ-CP bao gồm:
a) Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân.
b) Cung cấp, chia sẻ thông tin cổ súy các hủ tục, mê tín, dị đoan, dâm ô, đồi truy, không phù hợp với thuần phong, mĩ tục của dân tộc.
c) Cung cấp, chia sẻ thông tin miêu tả tỉ mỉ hành động chém, giết, tai nạn, kinh dị, rừng rợn.
d) Cung cấp, chia sẻ thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong Nhân dân, kích động bạo lực, tội ác, tệ nạn xã hội, đánh bạc hoặc phục vụ đánh bạc.
e) Cung cấp, chia sẻ các tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm mà không được sự đồng ý của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc chưa được phép lưu hành hoặc đã có quyết định cấm lưu hành hoặc tịch thu.
f) Quảng cáo, tuyên truyền, chia sẻ thông tin về hàng hoá, dịch vụ bị cấm.
g) Cung cấp, chia sẻ hình ảnh bản đồ Việt Nam nhưng không thể hiện hoặc thể hiện không đúng chủ quyền quốc gia.
h) Cung cấp, chia sẻ đường dẫn đến thông tin trên mạng có nội dung bị cấm.
Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Quyết định 874/QĐ-BTTTT (2021) về bộ quy tắc ứng xử trên mạng xã hội. Ngoài nội dung yêu cầu các tổ chức cá nhân tuân thủ những quy định về đưa thông tin lên mạng đã được các văn bản luật quy định, có thêm các khuyến cáo về việc tuân thủ các quy định của nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội, khuyến khích dùng tên thật và khuyến khích đăng tin quảng bá hình ảnh đất nước, con người và văn hoá Việt Nam; chia sẻ thông tin tích cực, những tấm gương người tốt, việc tốt.
Các nguyên tắc để nâng cao tính an toàn khi chia sẻ thông tin trên môi trường số:
- Trước khi đăng tin, hãy kiểm tra tin bài có vi phạm pháp luật hay không
- Không chia sẻ tin bài vi phạm pháp luật. Ngoài ra cần phải biết tin tức có chính xác không. Ngày nay trên mạng rất nhiều tin giả, việc chia sẻ một tin giả chính là tiếp tay cho hành vi tung tin giả
- Ngay cả trong trường hợp việc đưa tin không vi phạm pháp luật thì cũng phải cân nhắc hậu quả, nhất là khía cạnh đạo đức. Một tin vô hại với người này có thể mang lại tai hoạ cho một người khác
Lưu ý pháp luật quan trọng:
- Khi đưa tin lên mạng, hãy xem xét nội dung các tin bài có vi phạm các quy định của pháp luật hay không
- Đừng quên rằng, việc chia sẻ một tin vi phạm luật cũng là vi phạm luật
- Ngay khi tin đưa không phạm luật, vẫn phải tính đến các hậu quả của nó khi nó vi phạm những chuẩn mực đạo đức
2. Hình thành kiến thức (Knowledge) - Tiếp theo
3. Quyền tác giả và Bản quyền
a) Quyền tác giả
Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.
Vấn đề này liên quan tới cả các biến thể của tác phẩm (tác phẩm/bản phái sinh), khi từ tác phẩm gốc người ta tạo ra các biến thể, ví dụ một cuốn sách được dịch sang một ngôn ngữ khác hay một phần mềm máy tính được cài biên để dùng trên điện thoại di động.
Trong Luật Sở hữu trí tuệ được Quốc Hội ban hành ngày 25 tháng 6 năm 2019, quy định quyền tác giả đối với tác phẩm (bài thơ, bài báo, bức tranh, hình vẽ, chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu,...) bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.
Quyền nhân thân bao gồm các quyền:
- Đặt tên cho tác phẩm
- Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm
- Được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng
- Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm
- Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kì hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả
Quyền tài sản bao gồm các quyền:
- Làm tác phẩm phái sinh
- Sao chép tác phẩm
- Truyền đạt tác phẩm đến công chúng
- Cho thuê bản gốc hoặc bản sao, chương trình máy tính
Trong thực tế, bản quyền và quyền tác giả thường được dùng chung, coi như không có khác biệt. Tuy nhiên, về mặt bản chất, hai thuật ngữ đó không hoàn toàn tương đồng. Quyền tác giả coi người sáng tạo ra tác phẩm (tác giả) là trung tâm và bảo hộ các quyền bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản còn bản quyền ưu tiên bảo vệ quyền lợi đầu tư về kinh tế của người sở hữu quyền tác giả hơn là chính tác giả.
Do quá trình hội nhập quốc tế, những khác biệt này cũng dần được thu hẹp. Các văn bản pháp luật của Việt Nam hiện tại sử dụng thuật ngữ chính thức đó là quyền tác giả.
b) Vi phạm bản quyền đối với các sản phẩm tin học
Vi phạm quyền tài sản hay quyền nhân thân đều là vi phạm bản quyền. Hành vi vi phạm bản quyền rất đa dạng. Sau đây là một số các hành vi vi phạm bản quyền đối với các tác phẩm số:
• Mạo danh tác giả
• Công bố mà không được phép. Quyền công bố vốn là quyền nhân thân, nhưng việc công bố không đúng lúc, đúng chỗ có thể ảnh hưởng đến việc kinh doanh nên các tổ chức làm phần mềm không những giữ toàn bộ các quyền tài sản mà còn giữ cả quyền công bố.
• Sửa chữa, chuyển thế phần mềm, dữ liệu mà không được phép của tác giả. Hành vi này phá hoại tính toàn vẹn của sản phẩm, làm ảnh hưởng tới tác giả.
• Sử dụng phần mềm lậu, không mua quyền sử dụng phần mềm đối với các phần mềm phải trả tiền.
• Phá khoá phần mềm, vô hiệu hoá các biện pháp kĩ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thiết lập. Mặc dù phá khoá phần mềm tức là thay đổi phần mềm, một hành vi vi phạm tính toàn vẹn của tác phẩm, nhưng việc phá khoá nhằm mục đích sử dụng không trả tiền thì hành vi này lại vi phạm quyền tài sản. Rất nhiều các phần mềm nổi tiếng bị phá khoá và đưa lên mạng công khai để mọi người có thể lấy về dùng.
• Làm bản phái sinh, phân phối dữ liệu hay phần mềm, kể cả bản phái sinh mà không được phép.
• Chiếm đoạt mã phần mềm. Thường thì nhân viên phát triển phần mềm cho một công ty là tác giả chứ không sở hữu phần mềm ấy. Có nhiều trường hợp, các nhân viên làm phần mềm ra khỏi công ty đã sử dụng các mã nguồn phần mềm mình đã viết để làm những công việc khác, trong đó có cả việc làm ra các phần mềm cạnh tranh với chính phần mềm gốc.
• Đăng tải các tác phẩm, kể cả bản phái sinh mà không được phép của chủ sở hữu.
c) Tôn trọng bản quyền trong tin học
Trong tin học, khi mua phần mềm, cần phân biệt rõ việc mua bản quyền với mua quyền sử dụng (licence). Khi mua bản quyền thì người mua có quyền thực hiện các hoạt động kinh doanh đối với tác phẩm đó giống như cách Google mua Youtube. Còn nếu chỉ mua quyền sử dụng thì chỉ được sử dụng. Chúng ta mua hệ điều hành Windows, các phần mềm văn phòng như Word, Excel, PowerPoint đều chỉ là mua quyền sử dụng. Bản quyền của tất cả các phần mềm đó vẫn thuộc công ty Microsoft.
Quyền sử dụng phần mềm tính theo số máy được cài đặt. Nếu mua quyền sử dụng cho một máy, rồi lại cài đặt cho máy thứ hai là vi phạm bản quyền.
Vi phạm quyền tài sản sẽ gây thiệt hại trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các chủ sở hữu và gián tiếp đến toàn bộ ngành hoạt động đó. Hãy tưởng tượng, nếu các phần mềm tin học cứ làm ra là bị ăn cắp mà không bị trừng phạt thì không ai muốn đầu tư để làm phần mềm nữa. Trong lĩnh vực tin học, vi phạm bản quyền có thể gây thiệt hại rất lớn cho người đầu tư vì sản phẩm số có đặc tính:
– Dễ sao chép với chi phí rất thấp. Một công ty mất rất nhiều thời gian, tiền bạc, công sức để làm ra một phần mềm nhưng kẻ cấp thì chỉ mất một vài phút để sao chép.
– Dễ phát tán trên quy mô lớn. Nếu phần mềm bị phát tán thì công ty không thể bán được và có thể mất hết đầu tư.
Nhà nước Việt Nam đã có các quy định rất rõ ràng về những hành vi vi phạm quyền tác giả. Ví dụ, Nghị định số 131/2013/NĐ-CP quy định những hành vi vi phạm bản quyền như sau:
– "Truyền đạt tác phẩm đến công chúng mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả". Việc đưa dữ liệu hay phần mềm của người khác lên mạng không được phép sẽ bị phạt.
– "Sao chép tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả". Việc sao chép lậu dữ liệu hay phần mềm sẽ bị phạt.
– "Có ý huỷ bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kĩ thuật, công nghệ do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình". Những ai bẻ khoá phần mềm (crack) để dùng sẽ bị phạt.
Lời khuyên quan trọng:
- Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu
- Phần mềm và dữ liệu số đặc biệt dễ bị xâm phạm bản quyền do dễ sao chép, dễ phát tán
- Việc vi phạm bản quyền là hành vi phạm pháp luật, làm tổn hại đến việc kinh doanh của các chủ sở hữu
- Hãy tôn trọng bản quyền để phát triển các ngành tạo ra sản phẩm trí tuệ, trong đó có tin học
3. Luyện tập (Practice)
Bài tập thực hành
Câu hỏi thảo luận: Trong đợt bùng phát dịch Covid-19 vào đầu năm 2021, một cá nhân đã đăng tin sai về hành trình đi lại của một bệnh nhân bị dương tính với virus Covid-19. Sự việc này đã gây hoang mang cho cả một khu dân cư.
Câu hỏi: Theo em, cá nhân trên đã vi phạm điều nào trong bộ các Luật liên quan đến Công nghệ thông tin?
Phân tích pháp lý:
Theo các quy định pháp luật của Việt Nam về Công nghệ thông tin, hành vi của cá nhân trên đã vi phạm nhiều điều luật khác nhau:
1. Vi phạm Luật An ninh mạng (2018):
- Điều 8 khoản 1, điểm d: "Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong Nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế – xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác."
2. Vi phạm Luật Công nghệ thông tin (2006):
- Điều 12 khoản 2, điểm d: "Xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tin của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tin của công dân."
3. Vi phạm Nghị định 15/2020/NĐ-CP:
- Điều 101 khoản 1, điểm d: "Cung cấp, chia sẻ thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong Nhân dân, kích động bạo lực, tội ác, tệ nạn xã hội, đánh bạc hoặc phục vụ đánh bạc."
Hậu quả của hành vi:
- Gây hoang mang, lo sợ trong cộng đồng dân cư
- Ảnh hưởng đến hoạt động chống dịch của chính quyền địa phương
- Gây thiệt hại về kinh tế - xã hội
- Có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự
Bài học rút ra:
- Cần kiểm chứng thông tin trước khi đăng tải
- Không chia sẻ thông tin chưa được xác thực
- Có trách nhiệm với thông tin mình chia sẻ trên mạng
Câu hỏi thực tế: Trên mạng hiện nay có rất nhiều quảng cáo sai sự thật. Quảng cáo sai về tác dụng của một loại thuốc sẽ bị phạt theo mục nào của điều 101 khoản 1 của Nghị định 15/2020/NĐ-CP?
Trả lời: Quảng cáo sai về tác dụng của một loại thuốc sẽ bị phạt theo mục f của điều 101 khoản 1 của Nghị định 15/2020/NĐ-CP:
"f) Quảng cáo, tuyên truyền, chia sẻ thông tin về hàng hoá, dịch vụ bị cấm."
Giải thích: Thuốc là hàng hóa đặc biệt, việc quảng cáo sai tác dụng có thể gây nguy hiểm đến sức khỏe người tiêu dùng. Theo quy định, các loại hàng hóa, dịch vụ bị cấm quảng cáo bao gồm:
- Sản phẩm có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, đạo đức, xã hội
- Sản phẩm không có giấy phép lưu hành
- Sản phẩm có thông tin quảng cáo không đúng với thực tế
Mức phạt: Theo Nghị định 15/2020/NĐ-CP, hành vi này có thể bị phạt tiền từ 10-20 triệu đồng đối với cá nhân và từ 20-40 triệu đồng đối với tổ chức.
Lưu ý quan trọng:
- Mọi thông tin đăng tải trên mạng đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
- Việc chia sẻ thông tin sai sự thật cũng bị xử phạt như người đăng tin gốc
- Cần luôn kiểm chứng nguồn tin trước khi chia sẻ
4. Vận dụng (Application)
Thử thách thực tế
Dự án 1: "Xây dựng Bộ quy tắc ứng xử trên mạng cho lớp học"
Mục tiêu: Lập ra bộ quy tắc ứng xử văn minh trên không gian mạng cho học sinh lớp 10
Các bước thực hiện:
Bước 1: Phân tích các vấn đề thực tế
- Thảo luận về các hành vi không phù hợp thường gặp trên mạng xã hội của học sinh
- Xác định các rủi ro và hậu quả của các hành vi đó
- Tìm hiểu các quy định pháp luật liên quan
Bước 2: Xây dựng nội dung quy tắc
Quy tắc về nội dung đăng tải:
- Không đăng tin giả, tin chưa kiểm chứng
- Không đăng nội dung bạo lực, phản cảm
- Không xúc phạm, sỉ nhục người khác
- Tôn trọng sự khác biệt quan điểm
Quy tắc về tương tác:
- Sử dụng ngôn ngữ văn hóa, lịch sự
- Không bắt nạt, trêu chọc bạn bè
- Tôn trọng quyền riêng tư của người khác
- Giải quyết mâu thuẫn một cách xây dựng
Quy tắc về bản quyền:
- Không sử dụng hình ảnh, video của người khác mà không được phép
- Trích nguồn khi sử dụng thông tin, tài liệu
- Không chia sẻ phần mềm lậu, tài liệu có bản quyền
- Tôn trọng sở hữu trí tuệ
Quy tắc về an toàn:
- Bảo mật thông tin cá nhân
- Cảnh giác với người lạ trên mạng
- Không chia sẻ thông tin nhạy cảm
- Báo cáo các hành vi xấu cho người lớn
Bước 3: Triển khai và cam kết
- Trình bày bộ quy tắc trước lớp
- Tất cả thành viên ký cam kết tuân thủ
- Định kỳ đánh giá và điều chỉnh
- Chia sẻ với các lớp học khác
Dự án 2: "Nhận diện và xử lý tin giả"
Mục tiêu: Rèn luyện kỹ năng nhận diện và xử lý tin giả trên mạng xã hội
Hoạt động thực hành:
1. Nhận diện tin giả:
- Kiểm tra nguồn tin: Có phải từ trang báo chính thống không?
- Kiểm tra tác giả: Có thông tin về người viết bài không?
- Kiểm tra nội dung: Có thông tin một chiều, gây sốc, quá cực đoan không?
- Kiểm tra thời điểm: Tin có đăng vào thời điểm nhạy cảm không?
- Kiểm tra bình luận: Người bình luận có thực không?
2. Xử lý khi gặp tin giả:
- Không chia sẻ (share) tin chưa kiểm chứng
- Báo cáo (report) bài viết vi phạm
- Cảnh báo bạn bè về tin giả
- Tìm thông tin chính thống để đối chiếu
3. Thực hành tình huống:
Tình huống 1: "Thực phẩm X chữa được bệnh ung thư trong 3 ngày"
- Phân tích các dấu hiệu tin giả
- Tìm kiếm thông tin từ Bộ Y tế
- Báo cáo và cảnh báo người khác
Tình huống 2: "Siêu thị Y giảm giá 90%, chỉ hôm nay"
- Kiểm tra website chính thức của siêu thị
- Gọi điện thoại xác nhận
- Cảnh báo về lừa đảo
Dự án 3: "Tôn trọng bản quyền trong học tập"
Mục tiêu: Xây dựng thói quen tôn trọng bản quyền trong việc học tập và nghiên cứu
Các hoạt động:
1. Sử dụng phần mềm hợp pháp:
- Sử dụng các phần mềm miễn phí có bản quyền (LibreOffice, GIMP,...)
- Mua bản quyền hoặc sử dụng phiên bản giáo dục
- Không sử dụng phần mềm crack, keygen
2. Sử dụng tài liệu đúng cách:
- Trích nguồn khi trích dẫn thông tin
- Không sao chép nguyên văn mà không ghi nguồn
- Sử dụng các kho học liệu mở hợp pháp
3. Tạo sản phẩm có bản quyền:
- Đặt tên tác giả cho sản phẩm của mình
- Đăng ký bản quyền (nếu cần thiết)
- Sử dụng giấy phép Creative Commons phù hợp
Thử thách cuối cùng: "Digital Citizen - Công dân số có trách nhiệm"
Mục tiêu tổng hợp: Trở thành một công dân số có trách nhiệm trên không gian mạng
Các tiêu chí đánh giá:
- ✅ Hiểu và tuân thủ pháp luật trên mạng
- ✅ Ứng xử văn minh, tôn trọng người khác
- ✅ Tôn trọng bản quyền và sở hữu trí tuệ
- ✅ Có khả năng nhận diện và xử lý thông tin xấu
- ✅ Bảo vệ an toàn thông tin cá nhân
- ✅ Góp phần xây dựng môi trường mạng lành mạnh
Kết quả học tập: Sau khi hoàn thành các dự án, học sinh sẽ trở thành những công dân số có trách nhiệm, biết cách ứng xử văn minh và tuân thủ pháp luật trên không gian mạng.
Lời kết: "Mỗi cú click, mỗi lượt share, mỗi bình luận đều định hình nên con người số của em. Hãy là một công dân số thông thái và có trách nhiệm!"
Ghi nhớ kiến thức 🎯
- ✅ Đạo đức: Tự giác thực hiện các quy tắc xã hội
- ✅ Pháp luật: Nhà nước cưỡng chế thực hiện, có chế tài xử phạt
- ✅ Hành vi xấu: Đưa tin sai, lừa đảo, bắt nạt, vi phạm bản quyền
- ✅ Quyền tác giả: Quyền nhân thân + Quyền tài sản
- ✅ Bản quyền: Tôn trọng khi sử dụng phần mềm, tài liệu số
- ✅ Trách nhiệm: Mỗi hành động trên mạng đều phải chịu trách nhiệm